TOP bottom

Nỗi đau của Ước Mơ Hoà Giải

Print

Quảng Yên Nguyễn Công Bằng

Bằng ngôn ngữ chính trị, người ta có thể không nhìn nhận là Việt Nam có nội chiến trong gần một thế kỷ qua nhưng ở thực tế, nhiều thành phần dân tộc đã trở thành nạn nhân của cuộc nội chiến từ chiêu bài vì "độc lập, tự do, hạnh phúc". Năm 1975, dù cuộc chiến bom đạn và sự phân chia lãnh thổ đã chấm dứt nhưng cuộc nội chiến lại tiếp tục diễn ra với một hình thức khác. Nó âm ĩ song tàn độc hơn. Hòa bình chưa thực sự đến vì chết chóc và tù đày vẫn còn tiếp tục xảy ra. Cuộc nội chiến chuyển sang hình thức ý thức hệ dai dẳng, phức tạp hơn.

Dù là đứng ở đâu và với vị trí nào, Việt Nam vẫn là Tổ Quốc trong lòng mỗi người Việt. Ở tuổi trưởng thành của thế hệ tôi, Việt Nam là một đất nước đang vùng vẫy để sống còn bởi sức tàn phá khốc liệt của một cuộc chiến tranh không khoan nhượng. Đến tuổi ngủ tuần, đất nước tôi cũng chưa thật sự có hoà bình -- ít nhất là sự hoà bình trong lòng dân tộc. Mặc dù Hoà Giải luôn là một yếu tố 'cần và đủ' để giải quyết tình trạng mâu thuẫn và phân hoá của dân tộc, ít nhất là giữa những tập thể bất đồng chính kiến. Nhưng từ ngữ và nhu cầu đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những vấn đề mâu thuẫn mới. Hoà giải với ai, và hoà giải thế nào? Có thật sự cần hòa giải hay không? Và nếu cần thì hòa giải các thành phần nào của dân tộc? Cho đến nay, "hòa giải-hòa hợp" vẫn còn là một từ ngữ bị nhiều người "dị ứng", né tránh. Rõ ràng là hậu quả giai đoạn xung đột ý thức hệ của gần nửa thế kỷ trước vẫn còn có nhu cầu hóa giải.

Có một số vấn đề cần suy nghĩ.

Ở thời điểm hiện giờ, rất khó để khẳng định một cách rõ ràng công tội của từng người lãnh đạo các chế độ ở miền Bắc và Nam Việt Nam trong cuộc chiến trước 1975. Nhiều dữ kiện lịch sử vẫn chưa được phơi bày một cách trung thực và trọn vẹn. Tuy nhiên, những người có quan tâm đến lịch sử cận đại, và có điều kiện tham khảo khách quan, đều có thể có một nhận định khá giống nhau. Đó là: Thảm trạng của đất nước trong thời gian qua là trách nhiệm của rất nhiều người thuộc thành phần lãnh đạo của Việt Nam Cộng Sản và Việt Nam Cộng Hoà. Trách nhiệm đó chắc chắn sẽ được lịch sử phán xét công minh trong một ngày không xa. Nếu tin được điều đó, vấn đề khẩn thiết trước mắt là làm sao hóa giải được những lấn cấn còn lại, để dân tộc có thể đoàn kết -- một yếu tố cần phải có để bảo vệ được đất nước trước nguy cơ bị ngoại bang xâm lấn.

Yếu tố lớn nhất và không thể thiếu để giữ được nước là sự đoàn kết dân tộc. Muốn tạo được sự đoàn kết, mọi thành phần dân tộc cần phải có sự đồng thuận, đồng tâm và đồng chí. Yêu cầu đó không thể nào khả thi nếu như tình trạng mâu thuẫn nội tại chưa được hoá giải rốt ráo qua một sự hoà giải đúng nghĩa và đúng mức.

Cho đến nay, đảng cầm quyền (VNCS) vẫn khăng khăng giữ thái độ tự tôn của kẻ chiến thắng và xem những người VNCH và thành phần đối lập là kẻ thù, là phản động. Thái độ đó thể hiện bằng hành động phân biệt đối xử hay đàn áp thô bạo những người bất đồng chính kiến, gây ra thêm nhiều sự ngăn trở cho tiến trình hoà giải dân tộc. Nó đồng thời cũng là lý do chính đáng để nhiều người phải tiếp tục giữ thái độ chống Cộng cực đoan.

Với thực tế đó, đối tượng hoà giải đã mặc nhiên định hình một cách rõ ràng hơn mỗi ngày. Khi những người lãnh đạo chế độ Cộng sản cực đoan khẳng định không có nhu cầu hoà giải, thì họ đã tự định một chỗ đứng ngoài vòng đồng thuận của dân tộc. Điều đáng nói là không có họ, các thành phần dân tộc có ý thức cũng đã tiến hành sự hoà giải một cách tự nhiên. Và tiến trình đó đang diễn ra với một gia tốc đáng khích lệ.

Quá trình hoà giải đã được mặc nhiên thành hình bởi những người đấu tranh gốc miền Bắc và gốc miền Nam, hay có xuất xứ là trí thức xã hội chủ nghĩa và trí thức xã hội tự do. Tiến trình hoà giải sẽ được tiếp tục vận hành bởi những người yêu nước từ các thành phần dân tộc và quá khứ chính trị khác nhau, kể cả những người đã từng hoặc đang đứng trong hàng ngũ đảng Cộng sản. Tiến trình này sẽ có những lấn cấn, trở ngại nhưng chuỗi va chạm đó cũng cần thiết để bào mòn dần những dị biệt cố hữu giữa những người không có cùng chung một quá trình tranh đấu.

Nhưng kêu gọi hoà giải với những người lãnh đạo cực đoan của đảng CSVN vẫn tiếp tục là một điều hoang tưởng. Thực tế cho thấy, khi nắm được toàn bộ quyền lãnh đạo, những người lãnh đạo đảng cầm quyền không bao giờ công nhận có đối lập. Và vì vậy, chưa bao giờ có chuyện đối thoại với đối lập, dù đó là những người có xuất xứ là đồng chí cùng đảng, hay vẫn còn giữ tư cách đảng viên CSVN song có chính kiến khác biệt. Cho đến nay, việc đối thoại chỉ là đề tài bàn luận ở những người ngoài đảng CSVN.

Những người cầm quyền chế độ độc tài VNCS chỉ chấp nhận đối thoại và nói chuyện hoà giải khi họ đang đứng ở bên bờ vực thẳm của sự sụp đổ toàn diện. Nói cách khác, họ chỉ cần nói chuyện với lực lượng đối kháng khi tình hình đã hoàn toàn mất ổn định và chế độ đã không còn khả năng kiểm soát. "Thiện chí" muộn màng đó chưa chắc đã được đông đảo nhân dân chấp nhận. Với tinh thần nhân ái, bao dung của phe thắng cuộc mới có thể là chất tố hóa giải mâu thuẫn ở thời điểm căng thẳng nhất, nhưng điều đó không phải là kết quả tự nhiên của một tiến trình hòa giải đúng nghĩa và đúng lúc.

Hòa giải vẫn đang là một vấn đề nhức nhối và nhiều thử thách để có thể dung hòa chính kiến và đoàn kết dân tộc, hầu có thể giải quyết những vấn nạn của đất nước ở hiện tại và tạo dựng được điều kiện để phát triển quốc gia trong thời gian tới. Công thức hòa giải hợp lý nhất có lẽ là tinh thần vị tha ở mỗi người, và một thiện chí dung hòa với những khác biệt đang có.

Thiếu tinh thần đó, sự thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam trong thời gian tới cũng sẽ chỉ là hệ quả của một tình trạng thắng thua khác.

Nguyễn Công Bằng

Mùa Đông 2013